Thứ Hai, 31 tháng 5, 2010

Nghiệp cảm Duyên khởi

Phúc Trung
I. Dẫn nhập.- Nói đến Nghiệp cảm duyên khởi là nói đến giáo lý về Nghiệp để chỉ rõ những sự sai biệt của nhân sinh. Hiểu rõ Nghiệp người ta có thể thay đổi cuộc đời của mình trong hiện tại cũng như tương lai, chẳng những hữu ích cho riêng mình mà còn có lợi ích cho xã hội, góp phần kiến tạo cho nền hòa bình của thế giới.
II. Ðịnh nghĩa.- Căn cứ theo kinh điển, người ta thường định nghĩa Nghiệp là những hành động, lời nói, tư tưởng có tác ý.
Theo trong Kinh Tương Ưng Bộ đức Thế Tôn dạy về Nghiệp như sau:
"- Này các Tỷ kheo, Ta thuyết về các nghiệp mới và cũ, sự đoạn diệt các nghiệp, con đường đưa đến sự đoạn diệt các nghiệp. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
- Này các Tỷ kheo, thế nào là nghiệp cũ ?
Mắt, này các Tỷ kheo phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ. Tai... Mũi... Luỡi ... Thân... Ý cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ.
- Các Tỷ kheo, đây được gọi là nghiệp cũ.
- Và này các Tỷ kheo, thế nào là nghiệp mới ? Này các Tỷ kheo, hiện tại làm việc gì với thân, với lời nói hay với ý. Này các Tỷ kheo , đây được gọi là nghiệp mới.
- Và này các Tỷ kheo, thế nào là nghiệp đoạn diệt ? Sự đoạn diệt thân nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp, nhờ vậy cảm thấy giải thoát. Này các Tỷ kheo, đaY được gọi là đoạn nghiệp.
- Và này các Tỷ kheo, thế nào là con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt ? Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ kheo, đây là con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt." (1)
Nói tác ý tức là nói đến Tâm, đức Thế Tôn đã dạy trong Kinh Pháp Cú :
1.
Tâm dẫn đầu mọi pháp,
Tâm chủ, tâm tạo tác
Nếu nói hay hành động
Với tâm tư ô nhiễm
Khổ não sẽ theo ta
Như xe theo vật kéo.

2.
Tâm dẫn đầu mọi pháp,
Tâm chủ, tâm tạo tác
Nếu nói hay hành động
Với tâm tư thanh tịnh
Hạnh phúc sẽ theo ta
Như bóng không rời hình.

Tâm tạo nghiệp như đã trích dẫn ở trên, mà tập quán của chúng ta cũng tạo nghiệp như lời dạy của Thế Tôn sau đây:
167
Chớ sống theo hạ liệt
Chớ sống mặc, buông lung
Chớ tin theo tà kiến
Chớ tăng trưởng tục trần
168
Coi chừng chớ buông lung
Hãy sống theo chánh hạnh
Kẻ chánh hạnh hưởng lạc
Cả đời nầy, đời sau.
169
Hãy sống theo chánh hạnh
Chớ sống theo tà hạnh
Kẻ chánh hạnh hưởng lạc
Cả đời nầy, đời sau.
(3)
Do vậy chúng ta có thể định nghĩa Nghiệp là những tạo tác của thân, khẩu, ý có tác ý của tâm và những tập quán trong đời sống hằng ngày.
III. Phân loại.- Người ta phân ra thành nhiều loại nghiệp:
1.- Theo tính chất:
  1. Nghiệp thiện: Là những hành động, tư duy, lời nói có tánh chất tốt lành mang lại sự ấm no, hạnh phúc, an lạc cho con người hay sinh vật khác.
  2. Nghiệp ác: Là những hành động, tư duy, lời nói có tánh cách thô bạo, xấu, ác gây tai hại, khổ đau cho con người hay sinh vật khác.
2.- Theo tiến trình:
  1. Nghiệp nhân: Là những hành động, tư duy, lời nói gieo nhân tạo ra nghiệp.
  2. Nghiệp quả: Là những hành động, tư duy, lời nói từ trước tạo thành kết quả ngày nay.
3.- Theo thời gian:
  1. Nghiệp cũ: Như đoạn kinh trên Thế Tôn đã dạy, những hành động, tư duy, lời nói từ trước thì là nghiệp cũ.
  2. Nghiệp mới: Là những hành động, tư duy lời nói đang làm sẽ tạo nghiệp được gọi là nghiệp mới.
4.- Theo năng lực:
  1. Cận tử nghiệp: Là những nghiệp tạo tác khi con người sắp chết như lúc gần chết mà trong gia đình, vợ, chồng, con cái gây cho người chết luyến thương, nuối tiếc gia đình mình, nên có thể bị cận tử nghiệp lôi kéo trở lại sinh ra con, cháu hay súc vật như chó trong nhà. Cũng có thể bị tức giận, sợ hải lúc lâm chung đều tạo thành cận tử nghiệp nghiệp nhân nầy nhanh chóng tạo thành nghiệp quả.
  2. Cực trọng nghiệp: Là những nghiệp cực ác chẳng hạng như ngũ nghịch tội (1.- giết cha, 2.- giết mẹ, 3.- giết A La Hán, 4.- làm cho thân Phật chảy máu, 5.-phá hòa hợp Tăng) Những tội nầy bị đọa vào Vô gián địa ngục.
  3. Tập quán nghiệp: Là thói quen của hành động, tư duy, lời nói, đời sống cá nhân hàng ngày, và môi trường sống từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội.
  4. Tích lũy nghiệp: Là những nghiệp được tích lũy dần dần từ ngày nọ qua tháng kia hay từ kiếp nầy qua kiếp khác. Như trong Pháp Cú có câu:
121
Chớ khinh điều ác nhỏ
Cho rằng "chưa đến mình"
Lâu ngày cũng đầy bình
Người ngu si cũng vậy
Dần dần ác chứa đầy.
(4)
5.- Theo phân chia:
  1. Nghiệp riêng: Nghiệp đặc biệt riêng rẻ của mỗi cá thể. Ví dụ anh A có nghiệp riêng của anh, có gia đình, làm công nhân.
  2. Nghiệp chung: Nghiệp chung của những người ở trong cùng gia đình, hoàn cảnh, xã hội. Ví dụ anh A, chị B, cô C mỗi người có gia đình riêng, cùng làm công nhân trong một cơ xưởng ở Việt Nam, nên cùng có đời sống tương tợ nhau, sống chung dưới cùng chế độ Cộng sản.
6.- Theo tác dụng:
  1. Nghiệp dẫn đến tái sanh (hữu lậu nghiệp): Thông thường nghiệp của chúng ta đều dẫn đến sự tái sanh, bởi vì chúng ta có tác ý vào.
  2. Nghiệp không dẫn đến tái sanh (vô lậu nghiệp): Như chư Bồ Tát bố thí mà không nghĩ mình bố thí, vật bố thí và người nhận của bố thí do đó nghiệp ấy không dẫn đến tái sinh.
7.- Theo biến đổi:
  1. Ðịnh nghiệp: Là nghiệp được lưu chuyển từ nghiệp nhân đến nghiệp quả đồng nhất với nhau, thời gian ổn định.
  2. Bất định nghiệp: Là nghiệp lưu chuyển từ nghiệp nhân đến nghiệp quả không đồng nhất, thời gian không ổn định...
IV. Ý nghĩa.- Nói Nghiệp cảm duyên khởi là để chỉ cho nghiệp là nhân tố chính, chiêu cảm các duyên dẫn dắt chúng sinh trong lục đạo luân hồi. Ðối với con người, cuộc đời của chúng ta là do chúng ta tạo ra, hoàn cảnh hiện tại là do nghiệp nhân trong quá khứ, đồng thời cũng tạo nghiệp quả trong tương lai. Hiểu rõ nghiệp cảm duyên khởi chúng ta mới có lý giải vì sau con người có kẻ hiền, người dữ, kẻ giàu người nghèo, kẻ sang, người hèn, chẳng ai giống ai, mổi người đều do nghiệp nhân trong quá khứ tạo thành.
Do đó người ta có thể làm thay đổi vận mệnh của mình cho tương lai gần là trong kiếp nầy, xa là những kiếp sau.
Theo kinh Phật, trong hoàn vũ có thập pháp giới: 1.- Phật, 2.- Bồ Tát, 3.- Duyên giác, 4.- Thanh Văn, 5.- Trời, 6.- Người, 7.- A Tu La, 8.- Súc sanh, 9.- Ngạ quỷ, 10.- Ðịa ngục. Sanh làm người là khó, gặp được Phật, biết được Pháp càng khó hơn. Vì Phật pháp dạy cho chúng ta tu tập để chuyển nghiệp nhân đạt được quả tốt. TU cho đạt đến quả vị A La Hán hay Phật sẽ thoát khỏi luân hồi. không còn tái sinh vào lục đạo chịu nhiều nổi thống khổ, não phiền. Và vì chỉ có làm người mới dễ dàng tu nhân tích đức, những cõi thấp hơn chúng ta không thể tu, còn cõi Trời chỉ để hưỡng phước báo vui chơi, hết phước phải sanh lại làm người, làm người mà không biết tu bị vô minh gây ra nhiều ác nghiệp phải đọa vào các cõi thấp hơn, chẳng may rơi vào địa ngục thì khổ biết là bao.
V. Kết Luận.- Nghiệp cảm duyên khởi dẫn dắt chúng sinh vào trong luân hồi, biết rõ nghiệp nhân, nghiệp quả. Chỉ có con đường Tu mới chuyển được nghiệp ác của chúng ta trong những kiếp trước và gieo nghiệp lành cho mai sau.
8-3-2003
Ghi chú:
  1. HT. Thích Minh Châu dịch Kinh Tương Ưng Bộ, ÐTKVN, trang 223-24, VNCPHVN, Việt Nam. 1993
  2. HT. Thích Minh Châu dịch Kinh Lời Vàng, trang 78 Chùa Giác Hoàng Washinton DC, USA.
  3. sđd trang 127
  4. sđd trang 120

Lục đại Duyên khởi

Phúc Trung
Con người nói chung gồm có hai thành phần chính yếu, đó là vật chất và tinh thần. Trong kinh đức Phật dạy chi tiết hơn, con người do Ngũ uẩn hợp thành. Chữ Phạn Pãnca-skandha, ngài Cưu Ma La Thập (344-413) dịch là ngũ ấm, còn gọi là cựu dịch. Ấm có nghĩa là ngăn che chướng ngại, ngũ ấm là năm thứ ngăn che làm chướng ngại chân tánh, ngài Huyền Tráng (600-660) dịch là ngũ uẩn, còn gọi là tân dịch. Uẩn có nghĩa là nhóm, yếu tố, tích tụ nên ngũ uẩn là năm yếu tố kết hợp thành con người. Năm uẩn là đối tượng của sự chấp thủ nên còn gọi là năm thủ uẩn.
Năm uẩn là: Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn và Thức uẩn. Sắc uẩn là vật chất bốn nhóm còn lại thuộc về tinh thần.
Ðức Thế Tôn đã giảng năm uẩn và năm thủ uẩn cho các Tỷ kheo ở Savatthi (Xá Vệ) như sau:
- Này các Tỷ kheo, ta sẽ giảng năm uẩn và năm thủ uẩn, hãy lắng nghe...
- Này các Tỷ kheo, thế nào là năm uẩn ?
- Này các Tỷ kheo, phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn.
- Này các Tỷ kheo, phàm có thọ gì... phàm có tưởng gì ... phàm có hành gì...
- Này các Tỷ kheo, phàm có thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; đây gọi là thức uẩn.
- Những cái này, này các Tỷ kheo, được gọi là năm uẩn.
- Và này các Tỷ kheo, thế nào là năm thủ uẩn ?
- Này các Tỷ kheo, phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, có lậu hoặc, được chấp thủ; đây gọi là sắc thủ uẩn.
- Này các Tỷ kheo, phàm có thọ gì... phàm có tưởng gì... phàm có các hành gì...
- Này các Tỷ kheo, phàm có thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, có lậu hoặc, được chấp thủ; đây gọi là thức thủ uẩn
- Này các Tỷ kheo, đây được gọi là năm thủ uẩn. (1)
Sắc uẩn: bao gồm tánh chất vật lý và sinh lý, có bốn thứ cơ bản, bao quát theo danh từ Hán việt gọi là tứ đại :
  • Ðịa đại: Ðặc tính là rắn chắc, nâng đỡ vạn vật.
  • Thủy đại: Ðặc tính là ướt, thu nhiếp vạn vật.
  • Hỏa đại: Ðặc tính là nóng ấm, điều thực vạn vật.
  • Phong đại: Ðặc tính là động, sinh trưởng vạn vật.
Chúng ta thường gọi bốn lọai nầy là : Ðất, nước, gió, lửa. Sắc uẩn hay tứ đại trong con người chúng ta là: Ðất (chất rắn) như xương, da, thịt, tóc, răng, phân... Nước (chất lỏng) như máu, nước mắt, nước tiểu, mồ hôi.. . Gió (chuyển động), như hơi thở... Lửa (hơi nóng) như nhiệt độ trong người ...
Thọ Uẩn: Do sự tiếp xúc giữa giác quan và đối tượng sinh ra cảm giác gọi là Thọ, con người có 6 giác quan nên có 6 loại cảm thọ. Mắt nhìn thấy hình ảnh, màu sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân chạm vật, ý tưởng đều sinh ra cảm thọ với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Những cảm thọ nầy tựu trung có 3 loại: Dễ chịu, khó chịu và trung tính. Ví dụ trước mắt ta là một đầm sen, nhìn thấy hoa sen trổ đẹp, ta cảm thấy trong lòng khoan khoái dễ chịu, rồi nhìn sang chỗ khác một đống rác với gạch, đá cây, cỏ chúng ta cảm thấy khó chịu, rồi nhìn sang chỗ khác một hồ đầy nước, chúng ta không thấy khó chịu hay là dễ chịu gì cả. Hoặc có khi ra đường xe bên cạnh mở nhạc inh ỏi, âm thanh làm chói tai, có khi tức ngực, đó là cảm thọ khó chịu, có khi chúng ta nghe nhạc từ truyền hình hay máy hát phát ra một bản nhạc êm dịu, chúng ta cảm thấy thanh thản nhẹ nhàng ấy là cảm thọ dễ chịu, có khi vào trong cửa hàng nghe có tiếng nhạc vừa tai nhưng nhạc ấy không gây cho ta cảm giác gì hết do vậy nó thuộc loại cảm thọ không dễ hay khó chịu.
Tưởng Uẩn: Là nhóm khả năng hồi tưởng hay tưởng tượng sự vật. Chẳng hạn như người ta nhớ lại một thời thơ ấu, chẳng hạn người ta tưởng nhớ tượng Phật tôn trí trên bàn thờ ở chùa hay tưởng tới cảnh ngày chủ nhật sẽ đến chùa dâng dương lễ Phật.
Hành Uẩn: Là tác dụng tâm lý mang tính chất thiện ác, chính nó tạo nghiệp, đưa đến quả báo, tạo tác thành động lực tái sinh.
Thức Uẩn: Là khả năng hiểu biết, phân biệt sự vật qua 6 giác quan: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức.
Trở lại với con người, sắc uẩn là thân còn thọ, tưởng, hành, thức là tâm. Thức là tâm vương còn thọ, tưởng, hành thuộc về tâm nên gọi là tâm sở. Theo Câu Xá Tông chia vạn vật ra 5 vị có 75 pháp. 1. Sắc pháp (11), 2. Tâm pháp (1), 3. Tâm sở pháp (46), 4. Bất tương ứng pháp (14), Vô vi pháp (3). Pháp Tướng Tông chia ra 5 vị với 100 pháp. 1. Tâm pháp (8), 2. Tâm sở hữu pháp (51), 3. Sắc pháp (11), 4. Bất tương ứng pháp (24), 5. Vô vi pháp (6).
Tâm pháp có 8 là : Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, Mạt na thức và A lại gia thức.
Một thời ở tại vườn Lộc Uyển, Ba La Nại Ðức Thế Tôn sau khi dạy cho năm vị Tỳ kheo biết rằng Ngũ uẩn là vô ngã, vô thường và khổ. Ngài dạy thêm :
- Do vậy, này các Tỷ kheo, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái nầy không phải của tôi, cái nầy không phải là tôi, cái nầy không phải tự ngã của tôi ".
- Phàm thọ gì ...
- Phàm tưởng gì ...
- Phàm các hành gì ...
- Phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái nầy không phải của tôi, cái nầy không phải là tôi, cái nầy không phải tự ngã của tôi".
- Thấy vậy nầy các Tỷ kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm ly đối với các hành, yếm ly đối với thức. Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã dược giải thoát". Vị ấy biết rõ "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"
Thế Tôn thuyết như vậỵ Nhóm năm vị Tỷ kheo hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi lời dạy được nói lên, tâm của nhóm năm vị Tỷ kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ. (2)
Một thời ở Xá Vệ thành, Kỳ Thọ Cấp Cô độc viên Thế Tôn dạy về sự chứng tri của Người với bốn đại cũng gọi là bốn giới như sau:
- Này các Tỷ kheo, có bốn giới này.
- Thế nào là bốn ? Ðịa giới, Thủy giới, hỏa giới, phong giới. Này các Tỷ kheo, đây là bốn giới này.
...
- Này các Tỷ kheo, Ta suy nghĩ như sau:
- Lạc gì, hỷ gì khởi lên do duyên địa giới, đó là vị ngọt của địa giới. Cái gì vô thường, khổ, biến hoại của địa giới, đó là nguy hiểm của địa giới. Sự nhiếp phục và tham (chandaràga) sự đoạn tận dục và tham là sự xuất ly của địa giới.
- Lạc gì, hỷ gì khởi lên do duyên thủy giới ...
- Lạc gì, hỷ gì khởi lên do duyên hỏa giới ...
- Lạc gì, hỷ gì khởi lên do duyên phong giới, đó là vị ngọt của phong giới. Cái gì vô thường, khổ, biến hoại của phong giới, đó là nguy hiểm của phong giới. Sự nhiếp phục và tham sự đoạn tận dục và tham là sự xuất ly của phong giới.
- Này các Tỷ kheo, cho đến khi nào đối với bốn giới này. Ta chưa như thực thắng tri (abbhannàsim) như vậy vị ngọt là vị ngọt, như vậy nguy hiểm là nguy hiểm, như vậy xuất ly là xuất ly; thời cho đến khi ấy, này các Tỷ kheo, Ta chưa được chứng ngộ, chưa chứng tri vô thượng Chánh Ðẳng Giác, đối với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới và đối với chúng Sa môn và Bà la môn, với chư Thiên và loài Người.
- Này các Tỷ kheo, cho đến khi nào đối với bốn giới này. Ta như thật thắng tri như vậy vị ngọt là vị ngọt, như vậy nguy hiểm là nguy hiểm, như vậy xuất ly là xuất ly; thời này các Tỷ kheo, Ta đã chứng ngộ, đã chứng tri vô thượng Chánh Ðẳng Giác, đối với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới và đối với chúng Sa môn và Bà la môn, với chư Thiên và loài Người.
- Tri và kiến đã khởi lên ở nơi Ta: "Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðời sống nầy là tối hậu, nay không còn tái sanh nữa." (3)
Ðó là những đoạn kinh quan trọng mà người ta thấy rằng Lục đại gồm có địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, thức đại và không đại đã tạo thành con người, nên cho là Lục đại Duyên khởi. Bởi vì khi người ta đắm nhiễm vào tứ đại, ngũ uẩn thì bị chìm đắm vào trong lục đạo luân hồi mãi mãi.
Hiểu rõ Lục đại là vô ngã, vô thường và khổ (tam pháp ấn) để đoạn tận vô minh, xả ly tam độc, tinh tấn trên đường tu tập giải thoát.
July 1st. 2003
(1) HT. Thích Minh Châu Ðại Tạng Kinh VN, Kinh Tương Ưng bộ 3 trang 92-93, 1993 (2) HT. Thích Minh Châu Ðại tạng Kinh VN, Kinh Tương Ưng bộ 3 trang 127-129, 1993
(3)
HT. Thích Minh Châu Ðại tạng Kinh VN, Kinh Tương Ưng bộ 3 trang 295-297, 1993

Duyen khởi và Vô minh duyên khởi


Duyên khởi là giáo lý cơ bản, quan trọng nhất của Phật giáo để giải thích vì sao mọi pháp được hình thành. Ðức Phật đã dạy tôn giả A Nan: " Này A Nan ! Giáo pháp Duyên khởi nầy thâm thúy, thật sự thâm thúy, này A Nan chính vì không giác ngộ, không thâm hiểu giáo pháp duyên khởi này mà chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một tổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ munja và lau sậy babaja, không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử." (1).
Nó quan trọng bởi vì giáo lý Duyên khởi, cho thấy mọi pháp do duyên sinh nên vô ngã tính, hiểu được vô ngã tính trong mọi pháp, chúng ta sẽ dễ dàng bỏ hết những tiền, tài, danh, lợi, để tinh tấn tu học.
Vậy Duyên khởi là gì ? Chúng ta hãy nghe đức Thế tôn giảng trong Kinh Tương Ưng bộ Phẩm Phật Ðà như sau :
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá vệ), tại Jetavana (Thắng Lâm), trong vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc)
Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ kheo: " Này các Tỷ kheo!". "- Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói:
- Này các Tỷ kheo, ta sẽ thuyết cho các Ông về lý Duyên khởi. Hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn
Các Tỷ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
Này các Tỷ kheo, thế nào là lý Duyên khởi ? Này các Tỷ kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy toàn bộ khổ uẩn nầy tập khởi. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là tập khởi.
Nhưng do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn nầy đoạn diệt. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là đoạn diệt.
Thế Tôn nói như vậy. Các Tỷ kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Lần khác cũng ở tại Sàvatthi (Xá vệ)
- Này các Tỷ kheo, ta sẽ thuyết và phân tích cho các Ông về lý Duyên khởi. Hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn
Các Tỷ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
Này các Tỷ kheo, thế nào là lý Duyên khởi ? Này các Tỷ kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy toàn bộ khổ uẩn nầy tập khởi.
Và này các Tỷ kheo, thế nào là già chết ? Cái gì thuộc chúng sanh nầy hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh nầy hay thuộc bộ lọai chúng sanh khác, sự từ bỏ, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn hư hoại, thân thể vứt bỏ. Ðây gọi là chết. Như vậy đây là già, đây là chết. Này các Tỷ kheo, đây gọi là già chết.
Và nầy các Tỷ kheo, thế nào là sanh ? Cái gì thuộc chúng sanh nầy hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh nầy hay thuộc bộ loại chúng sanh khác bị sanh, xuất sanh, giáng sanh, đản sanh, sự xuất hiện các uẩn, sự thành tựu các xứ. Này các Tỷ kheo, đây gọi là sanh.
Và nầy các Tỷ kheo, thế nào là hữu ? Này các Tỷ kheo, có ba hữu này: Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu. Này các Tỷ kheo, đây gọi là hữu.
Và nầy các Tỷ kheo, thế nào là thủ ? Này các Tỷ kheo, có bốn thủ này: Dục thủ, Kiến thủ, Giới cấm thủ, Ngã luận thủ. Này các Tỷ kheo, đây gọi là thủ.
Và nầy các Tỷ kheo, thế nào là ái ? Này các Tỷ kheo, có sáu ái thân này: Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Này các Tỷ kheo, đây gọi là ái.
Và nầy các Tỷ kheo, thế nào là thọ ? Này các Tỷ kheo, có sáu thọ thân này: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ kheo, đây gọi là thọ.
Và nầy các Tỷ kheo, thế nào là xúc ? Này các Tỷ kheo, có sáu xúc thân này: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Này các Tỷ kheo, đây gọi là xúc.
Và nầy các Tỷ kheo, thế nào là sáu xứ ? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Này các Tỷ kheo, đây gọi là sáu xứ.
Và nầy các Tỷ kheo, thế nào là danh sắc ? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý; đây gọi là danh. Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo ra; đây gọi là sắc. Như vậy đây là danh, đây là sắc. Ðây gọi là danh sắc.
Và nầy các Tỷ kheo, thế nào là thức ? Này các Tỷ kheo, có sáu thức thân này: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỷ kheo, đây gọi là thức.
Và nầy các Tỷ kheo, thế nào là hành ? Này các Tỷ kheo, có ba hành này: Thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỷ kheo, đây gọi là hành.
Và nầy các Tỷ kheo, thế nào là vô minh ? Này các Tỷ kheo, không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con đường đưa đến Khổ diệt. Này các Tỷ kheo, đây gọi là vô minh.
Như vậy nầy các Tỷ kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn nầy tập khởi. Nhưng do sự ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn của toàn bộ khổ uẩn nầy. (2)
Theo duyên khởi, con người được hình thành do 12 chi của nhân duyên: Vô minh -> hành -> thức -> danh sắc -> lục nhập -> xúc -> thọ -> ái ->thủ -> hữu -> sanh -> già chết, cho nên được gọi là Vô minh duyên khởi.
Về Vô minh, đức Phật dạy tôn giả Xá Lợi Phất như sau:
"Vô minh, vô minh", nầy hiền giả, Sàriputta, được nói đến như vậy. Nầy Hiền giả, thế nào là vô minh?
Này hiền giả, không biết rõ đối với khổ, không biết rõ đối với khổ tập khởi, không biết rõ đối với khổ đoạn diệt, không biết rõ với con đường đưa đến khổ đoạn diệt, này Hiền giả, đây gọi là vô minh. (3)
Ðể giải thích khởi nguyên của vũ trụ, các nhà khoa học đương đại lập thuyết Big Bang. Theo thuyết nầy vũ trụ hình thành cách nay 15 tỷ năm, từ một vụ nổ chớp nhoáng, phát khởi từ một vật chất vô cùng bé, nóng và đậm đặc vô cùng. Vụ nổ đồng thời tạo ra không gian và thời gian, từ đó giản nở không ngừng, loãng đi và lạnh rất nhiều. Nhờ vũ trụ lạnh đi nên các cấu trúc như các hạt cơ bản, hạt quarks, điện tử, nguyên tử có thể hình thành. Năng lượng của hư không tạo ra vật chất theo công thức nổi tiếng của nhà bác học Einstein E=mc2, được đánh giá là công thức nổi tiếng nhất trong lịch sử khoa học. Mo6.t khối năng lượng có thể chuyển thành một hạt vật chất mà khối lượng m bằng khối năng lượng E chia cho bình phương của tốc độ ánh sáng.
Nhưng khoa học không cho phép người ta dò tìm ra được điểm khởi đầu của vụ nổ, như có bức tường ngăn, không cho các nhà khoa học biết chi hết, bức tường đó được gọi là Planck, đó là tên của nhà khoa học Ðức, người đầu tiên nghiên cứu vấn đề nầy. Bức tường Planck hiện hữu ở thời điểm 10-43 giây (mười lũy thừa trừ 43), thời điểm nầy cũng được gọi là thời điểm Planck. Vũ trụ lúc bấy giờ nhỏ bằng đường kính của nguyên tử Hydro nhỏ bé bằng 10-33 cm (mười lũy thừa trừ 33), đường kính nầy cũng là chiều dài Planck. (5)
Phải chăng đối với các nhà khoa học, bức tường Planck là màn vô minh, vô minh ấy mới hành ra Big Bang ?
Ðã nói về duyên khởi, cũng nên nói qua Nhân duyên, nhân là điều kiện chính, duyên là điều kiện phụ phát sinh ra sự vật (pháp). Theo Kinh Lăng Già Tâm Ấn (5), có hai thứ duyên và sáu thứ nhân.
Tất cả pháp có hai duyên tướng là ngoại và nội duyên:

- Ngoại duyên:  Như đất, nước, công sức, củi lửa lò nung làm ra cái bình, những thứ làm nên cái bình ấy là ngoại duyên.
- Nội duyên:  Còn chất mặn trong nước biển là sở duyên của nước, nó ở trong nước biển là nội duyên.
Còn 6 nhân là:
Ðương hữu nhân, tương tục nhân, tướng nhân, tác nhân, hiển thị nhân và đãi nhân.
- Ðương hữu nhân là có nhân rồi pháp trong, ngoài sanh, tương đương với nhân duyên.
- Tương tục nhân là duyên có rồi pháp trong ngoài sanh, tương đương với sở duyên duyên.
- Tướng nhân là tạo tướng không gián đoạn tương tục sanh, tương đương với đẳng vô gián duyên.
- Tác nhân là làm tăng thêm, tương đương với tăng thượng duyên.
- Hiển thị nhân là vọng tưởng sanh rồi tướng mới hiện.
- Ðãi nhân là khi đoạn diệt tạo đoạn tương tục, tánh chẳng vọng tưởng sanh.
Sáu nhân nầy làm thành sáu loại duyên khởi.
Lý Duyên khởi rất quan trọng như đức Thế Tôn đã dạy : "Ai thấy duyên khởi là thấy Pháp, ai thấy Pháp là thấy Phật". Nhờ thấy Phật ta có đức tin, nhờ thấy Pháp ta biết đường tu để ly tham, đoạn diệt vô minh đầu mối của sinh tử, luân hồi.
Phúc Trung
Jun. 12th. 2003
---
  1. Kinh Ðại Duyên Trường Bộ 1, tr. 512
  2. Kinh Tương Ưng Bộ 2, tr. 9-14
  3. Kinh Tương Ưng Bộ 4, tr. 411
  4. GN số 62, 05/2001
  5. Kinh Lăng Già Tâm Ấn, Tu viện Chân Không, Vũng Tàu, Việt Nam, 1975, tr. 142

Về một quyển sách


Chánh Hạnh
Thoạt tiên tôi chọn tên đặt cho bài này là "Cái gì của Cesar hãy trả lại cho Cesar", nhưng nghĩ lại mặc dù nhiều người dùng thành ngữ này, nó trở nên thông dụng cũng có thể làm cho độc giả hiểu lầm vì đây là lời của chúa Jesus đã nói, ghi trong Thánh kinh. Tôi lại chọn tựa là "Một ngụy thư của Nhà Xuất Bản Tôn Giáo", nhưng lại sợ bị hiểu lầm với từ Ngụy quân, Ngụy quyền của Cộng sản đã dùng, nên cuối cùng tôi ưng đặt tên cho bài này là "Về một quyển sách". Đó là quyển "Thế Giới Quan Phật Giáo" của Hòa Thượng Thích Mật Thể do Nhà Xuất Bản Tôn Giáo ấn hành năm 2004. Nhà Xuất Bản Tôn Giáo thuộc Ban Tôn Giáo Chính Phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Nguyệt san Phật Học từ số 131, tháng Sáu năm 2005, đã đăng lại quyển Thế Giới Quan Phật Giáo của Hòa Thượng Thích Mật Thể, Vạn Hạnh Xuất Bản do Hoà Thượng Thích Đức Nhuận chủ trương, ấn hành năm 1967 tại Sàigòn. Đây là quyển sách tôi mua được trong một cửa hàng bán sách cũ vào năm 1998, trên đường Nguyễn Thị Minh Khai tức là đường Hồng Thập Tự cũ, gần đường Nguyễn Thiện Thuật Quận Ba, Sàigòn. Sách có thủ bút của Hòa Thượng Thích Đức Nhuận "Kính biếu Cụ Tham Thọ (ký tên: Nhuan) 1969". Mãi đến sau nầy khi Nguyệt San Phật Học đã đăng vài số, tôi mới khám phá ra là quyển sách này đã bị ai đó dùng kéo cắt mất 4 trang: 3, 4, 5, 6 trong đó có bài TỰA khởi đầu ở trang 3. Theo chỗ suy đoán của chúng tôi, chắc bài TỰA có phê phán về chủ nghĩa xã hội, điều này không có lợi cho người bán sách cũ, do vậy họ đã cắt bỏ phần này. Chúng tôi chưa có dịp để tìm lại nguyên bản bài TỰA, chắc chắn là do Hòa Thượng Thích Đức Nhuận viết.
Quyển sách này có một giai thoại như sau: Vào khoảng năm 1997, Thượng Tọa Thích Giác Toàn, Phó Tổng Biên Tập Tuần Báo Giác Ngộ, đến chùa Giác Minh tìm gặp Hòa Thượng Thích Đức Nhuận để xin cho tái bản quyển Thế Giới Quan Phật Giáo, Hòa thượng Đức Nhuận nói với Thượng Tọa Giác Toàn:
- Quyển Thế Giới Quan Phật Giáo, tôi in năm 1967, ngày nay không biết còn có thích hợp với chế độ này hay không, Thượng Tọa có muốn tái bản thì xem lại cho cẩn thận.
Sau khi xin được giấy phép, Thượng Tọa Giác Toàn cho in và phát hành. Khi đã phát hành rồi liền được Ban Tôn Giáo yêu cầu đình chỉ, những sách đã phát hành phải thu và nộp lại cho đủ với số sách đã in.
Vì sao sách đã cho phép in, phát hành rồi lại tịch thu? Đương nhiên nội dung chứa những điều không tốt cho chế độ, nếu vậy tại sao Thượng Tọa Giác Toàn dám xin phép in và tại sao Nhà Xuất Bản Tôn giáo cho phép?
Theo suy đoán của chúng tôi, Thượng Tọa Giác Toàn tin tưởng rằng tác giả, Hòa Thượng Thích Mật Thể từng là Đại Biểu Quốc Hội Khóa I của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Chủ Tịch Ủy ban Phật Giáo Cứu Quốc tỉnh Thừa Thiên, từ năm 1947 tập kết ra Bắc và đã viên tịch ở Nghệ An vào năm 1961. Quyển Thế Giới Qua Phật Giáo được sáng tác trên đất Bắc dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa, nếu Ngài không ca ngợi chế độ thì cũng không viết chi để xúc phạm đến chế độ, nếu có những gì không hay không phải thì Ban Tôn Giáo kiểm duyệt sẽ bỏ đi hoặc không cho in. Còn phần vụ kiểm duyệt của Ban Tôn Giáo cũng nghĩ như Thượng Tọa Giác Toàn là tác giả có một quá trình cống hiến cho Cách mạng, không ca ngợi thì thôi có đâu lại phê phán chế độ, và cũng tin nơi Thượng Tọa Giác Toàn chọn lựa sách có giá trị, đáng tin cậy. Cho nên quyển sách được cho phép in và phát hành bình thường, đến khi phát hành có người phát hiện, báo cho Ban Tôn Giáo biết về nội dung sách, lúc đó Ban Tôn Giáo nhanh chóng ra lệnh tịch thu.
Như vậy, câu hỏi được đặt ra là tại sao năm 2004 Ban Tôn Giáo lại cho phát hành sách này? Sự việc không có chi lạ, họ muốn dùng “Gậy ông đập lưng ông”. Với một tác giả có nhiều uy tín trong Phật giáo, xuất bản sách của tác giả này sẽ gây được ảnh hưởng rất sâu rộng và vững chắc. Do đó họ đã mạnh dạn sửa đổi nội dung từ một quyển sách phê phán trở thành một quyển sách ca tụng Chủ Nghĩa Xã Hội. Đấy là động cơ thúc đẩy họ cho tái bản lại quyển Thế Giới Quan Phật Giáo.
Trước khi vạch rõ nội dung thay đổi chính yếu, tưởng cũng nên trình bày qua nét thay đổi tổng thể như sau:
Sách do Vạn Hạnh Xuất Bản gồm có các tiết mục:
TỰA …………………………………………………Trang 3
TÌM ĐƯỜNG ………………………………………………7
LỜI MỞ ĐẦU …………………………………………..….11 TÌM HIỂU ……………………………………………….....17
- Tìm ở khoa học
- Tìm ở triết học
- Tìm ở tôn giáo
- Tìm ở chính trị
- Tìm ở Xã hội chủ nghĩa

PHẬT GIÁO ………………………………………………..31

1) Tôn giáo

a) Tin có thần b) Tín điều
2) Phật giáo
a) Sự thật
b) Phương pháp

a) Quan niệm về giáo chủ
a) Quan niệm về giáo chủ của các tôn giáo chủ trương
b) Quan niệm về giáo chủ của Phật giáo với chủ trương bình đẳng.

b) Quan niệm về sự vật
a) Quan niệm về sự vật của tôn giáo
b) Quan niệm về sự vật của Phật giáo

c) Quan niệm về luân lý
a) Quan niệm về luân lý của các tôn giáo
b) Quan niệm về luân lý của Phật giáo

d) Quan niệm giá trị về nhân sinh
a) Quan niệm của tôn giáo
b) Quan niệm của Phật giáo

- Bản thể thực tại
- Phương tiện thực hành

HAI NGUYÊN LÝ CỦA PHẬT GIÁO ………………………….43
a) Hiện tượng chuyển biến và vô thường
b) Bản thể bất sinh bất diệt

PHẬT GIÁO VỚI VẤN ĐỀ NHÂN SINH ……………………….53
a) Nhân sinh do đâu mà có ?
b) Cuộc sống còn của nhân sinh
c) Sự chung kết của nhân sinh

PHẬT THÍCH CA LÀ HIỆN THÂN CỨU KHỔ CỦA NHÂN LOẠI …75
NHẬN THỨC LUẬN ……………………………………………..…….85
a) Bản chất của trí thức
b) Nguồn gốc giúp trí thức phát triển
c) Hiệu lực của trí thức

PHẬT THÂN LUẬN ……………………………………………………97
a) Pháp thân
b) Hóa thân
c) Báo thân

KẾT LUẬN ……………………………………………….……………105
Sách do Nhà xuất bản Tôn Giáo gồm có các tiết mục:
Lời mở đầu ……………………………………………...…… Trang 5 Vài nét về Thiền sư Thích Mật Thể ………………….……………... 9 Tìm đường …………………………….……………………………. 13 Tìm hiểu ……………………………………………………………..15
- Tìm ở khoa học ………………………………...…………….15
- Tìm ở triết học …………………………………...………….. 17
- Tìm ở tôn giáo ……………………………………………….. 18
- Tìm ở chính trị ……………………………………………….. 20

* Phật Giáo
I. Tôn giáo…………………………………………………………….25
a) Tin có thần .…………….………………………………….. 26 b) Tín điều ….…..……………………………………………. 26
II. Phật giáo ………………………………………………………….. 26
c) Sự thật ………………………………………….......……… 26
d) Phương pháp ……………………………………….………. 27

A. Quan niệm về giáo chủ
c. Quan niệm về giáo chủ của tôn giáo ……………………..…… 27
d. Quan niệm về giáo chủ của Phật giáo ……………………….... 27

B. Quan niệm về sự vật
c) Quan niệm về sự vật của tôn giáo ………………………...… 28
d) Quan niệm về sự vật của Phật giáo …………………………. 28

C. Quan niệm về luân lý
c) Quan niệm về luân lý của các tôn giáo …………..…………... 29
d) Quan niệm về luân lý của Phật giáo …………………………. 29

D. Quan niệm giá trị của nhân sinh
c) Quan niệm của tôn giáo ………………………………………. 29
d) Quan niệm của Phật giáo …………………………….……….. .30

III. Phật Giáo không phải là tôn giáo song cũng không phải là triết học .. 30
c) Bản thể thực tại ………………………………………………... 31
d) Phương tiện thực hành …………………………………………. 32

* Hai Nguyên Lý Của Phật Giáo
1. Hiện tượng chuyển biến và vô thường ……………….………….. 33
2. Bản thể bất sinh bất diệt ………………………………………… 34

* Phật Giáo Với Vấn Đề Nhân sinh ...……………………...……….... 35
A. Nhân sinh do đâu mà có ………………………………..……… 36
B. Cuộc sống còn của nhân sinh ……………………………...……. 37

1. Sự sống về vật chất …….…………………………….…. 38
2. Sự sống về tinh thần …………………………………..… 39

C. Sự chung kết của nhân sinh ………………………………….… 40
* Phật Thích Ca là hiện thân cứu khổ của nhân loại ...……….….… 66
* Nhận Thức Luận
A. Bản chất của trí thức …………………....………………… 73
B. Nguồn gốc giúp trí thức phát triển……..…………………… 74
C. Hiệu lực của trí thức ………………………………………. 79

* Phật Thân Luận
c. Pháp thân …………………………………………………… 84
d. Hóa thân ……………………………………………………. 85
e. Báo thân ……………………………………………………. 86

* Kết Luận ...…………………………….....……………………………… 90
Phụ lục :
Phê bình cuốn "Phật giáo triết học" của ông Phan Văn Hùm …………………. 95
Qua phần trình bày trên, chúng ta thấy Nhà Xuất Bản Tôn giáo đã thay đổi vài tiết mục như bỏ Lời tựa của Vạn Hạnh Xuất bản, đưa Lời mở đầu lên trên, đưa Tìm đường xuống, thêm tiểu sử tác giả, bỏ tiết mục Tìm ở Xã hội chủ nghĩa, đấy là phần chính đã làm thay đổi một phần nội dung của cuốn sách.
Quyển Thế Giới Quan Phật Giáo do Vạn Hạnh Xuất Bản từ trang 26 đến trang 29 nội dung như sau:
Các chính sách của các nhà ngoại giao, luôn luôn chuốt miệng cho khéo, thỉnh thoảng đọc những bài diễn văn lời lẽ rất văn hoa chải chuốt, tuyên bố những lời có vẻ trịnh trọng hòa bình, hoặc khi cùng bắt tay nhau, ký hiệp ước này, hiệp định khác, song cũng không hiểu vì sao? - Hay nó là tính tò mò của người ta - Họ vẫn lo ngại cho cuộc biến chuyển của tương lai, một cuộc chiến tranh khác, có lẽ khốc liệt hơn có thể xảy ra nếu loài người không thức tỉnh.
Có gì ngây ngô bằng tin các nhà chính trị có thể gặp nhau trong một lý tưởng, cùng một chủ nghĩa, căn cứ vào chính trị để tìm hạnh phúc mau chóng cho nhân loại, là một lý luận không thể đứng vững được.
Tìm ở chủ nghĩa xã hội. Ở khoa học, triết học cho đến tôn giáo, chính trị ta thấy đều không thể đem lại sự thỏa mãn lòng nhu cầu của nhân loại, tìm con đường sáng để đi đến chỗ hạnh phúc hoàn toàn chân chính thiện mỹ. Vậy nay hãy nhìn qua về xã hội chủ nghĩa là có một thuyết chủ trương về kinh tế, hiện đương có thế lực bành trướng khắp nơi, và hình như đã thu hút được nhiều người.
Xã hội chủ nghĩa là bước đầu tiên đến duy vật sử quan và duy vật biện chứng, để nhận xét lịch trình tiến hóa của nhân loại, và thuyết minh luật mâu thuẫn giữa vạn vật, giữa các giai cấp đấu tranh vô sản cầm chính quyền, tổ chức một nền kinh tế theo chủ nghĩa xã hội, tức là nền kinh tế quân phân, mỗi người đều hết bổn phận làm việc theo tài năng của mình, sự nhu cầu sẽ có xã hội cung cấp đầy đủ.
Bấy giờ ở xã hội không còn có chế độ của riêng nữa, sự mâu thuẩn ở giai cấp cũng tiêu sạch, nhân loại sẽ được hưởng hạnh phúc sung sướng không còn thống khổ và gây ra chiến tranh nữa.
Xét ra lý thuyết của chủ nghĩa này rất hay, nếu thực hiện được, thì nhân loại cũng hết khổ và hưởng được nhiều điều an vui thật. Song căn bản của chủ nghĩa xã hội đã sai lầm, nhận vật chất làm căn nguyên sinh ra vạn hữu, vũ trụ và lý tưởng loài người. Vì điều sai lầm căn bản ấy, xã hội chủ nghĩa trở nên nông cạn, chỉ thấy con người ở cơm ăn áo mặc. Đi sâu vào tâm lý loài người, xét tận nguồn gốc gây ra thống khổ của nhân loại, nguyên nhân chỉ vì Tham, Sân, Si chứa chất nhiều quá rồi được hoạt động qua một bản ngã (cái ta) sai lầm, thấp kém. (Mà chính cái đó gây ra mầm mống mâu thuẩn).
Nên xã hội chủ nghĩa tổ chức kinh tế khéo giỏi đến đâu, mà nếu không thể gọt bằng trí hiểu biết của con người, không thể thủ tiêu, hoặc không có phương pháp để thủ tiêu lòng tham, sân, si cùng bản ngã nhỏ hẹp kia, thì nhân loại cũng không bao giờ hết khổ được.
Vậy phải tranh đấu đến bao giờ mới kết quả, và sự mâu thuẩn giữa nhân loại đến bao giờ mới hết, ngay khi tranh đấu ấy lại gây ra mâu thuẩn, để rồi tự hủy thế đặng đi đến một quá trình biện chứng khác? Thiết tưởng đã không làm sao gọt bằng được trí thức, thủ tiêu được bản ngã nhỏ hẹp của con người thì sự mâu thuẩn giữa nhân loại không bao giờ hết. Mà rồi e rằng người ta chỉ có cãi cọ nhau, giằng co nhau, cắn xé nhau, đánh giết nhau, cuộc tổng cách mạng không thành, loài người không thể đi đến đích thế giới đại đồng, hạnh phúc sung sướng vui tươi của xã hội chủ nghĩa, muốn đem lại cho đời người thỏa mãn ngóng trông nó, mơ ước nó, như thế tưởng không khỏi như con ma kia cứ ruổi theo bóng nắng giữa bãi cát dài vô hạn! Để tìm một con đường sáng, tức là một giải quyết thõa đáng về vấn đề vũ trụ nhân sinh ở các thuyết, các tôn giáo, để có thể làm phương châm xây nền tảng hạnh phúc chung cho nhân loại. Sau khi đọc qua các thuyết như trên, con đường sáng vẫn còn đâu đâu, người đi đường còn phải cố gắng bước kiếm tìm.
Nay ta thử đi vào địa hạt Phật Giáo.
Phần này, sách Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, trình bày trang 23 và 24 với thay đổi như sau:
Các chính sách của các nhà ngoại giao, luôn luôn chuốt miệng cho khéo, thỉnh thoảng đọc những bài diễn văn lời lẽ rất văn hoa chải chuốt, tuyên bố những lời có vẻ trịnh trọng hòa bình, hoặc khi cùng bắt tay nhau, ký hiệp ước này, hiệp định khác, song cũng không hiểu vì sao? - Hay nó là tính tò mò của người ta - Họ vẫn lo ngại cho cuộc biến chuyển của tương lai, một cuộc chiến tranh khác, có lẽ khốc liệt hơn có thể xảy ra nếu loài người không thức tỉnh.
Xét ra các lý thuyết này rất hay, nếu thực hiện được, thì nhân loại cũng hết khổ và hưởng được nhiều điều an vui thật. Song nó cũng khó thực hiện. Đi sâu vào tâm lý loài người, xét tận nguồn gốc gây ra thống khổ của nhân loại, nguyên nhân chỉ vì Tham, Sân, Si chứa chất nhiều quá rồi được hoạt động qua một bản ngã (cái ta) sai lầm, thấp kém. (Mà chính cái đó gây ra mầm mống mâu thuẩn).
Để tìm một con đường sáng, tức là một giải quyết thỏa đáng về vấn đề vũ trụ nhân sinh ở các thuyết, các tôn giáo, để có thể làm phương châm xây nền tảng hạnh phúc chung cho nhân loại. Sau khi đọc qua các thuyết như trên, con đường sáng vẫn còn đâu đâu, người đi đường còn phải cố gắng bước kiếm tìm.
Nay ta thử đi vào địa hạt Phật Giáo.
Như vậy chúng ta thấy rõ họ đã cắt bỏ phần phê phán xã hội chủ nghĩa, và còn nữa, ở tiết mục Cuộc Sống Còn Của Nhân Sinh, trong Sự Sống Và Sự Chết có đoạn tác giả trình bày ở trang 69 như sau:
Để giải quyết sự chiến tranh mâu thuẫn giữa nhân loại, Karl Marx khéo lợi dụng những điều phát minh của các nhà khoa học, triết học, sáng lập ra chủ nghĩa xã hội, chủ trương giai cấp tranh đấu để tiêu diệt chủ nghĩa tư bản độc tài, kiến lập chủ nghĩa cộng sản. Khi nhân loại đã có một nền kinh tế quân bình, sự mâu thuẫn giữa giai cấp không còn nữa, và chiến tranh sẽ hết, nhân loại sẽ được hưởng hạnh phúc sung sướng, nhưng vì thiếu căn bản nhân tính, nên chế độ kinh tế này trở thành máy móc không tưởng, để rồi quay lại phản bội con người.
Sách Nhà Xuất Bản Tôn Giáo ở trang 60 đã sửa chữa lại như sau:
Để giải quyết sự chiến tranh mâu thuẫn giữa nhân loại, Karl Marx khéo áp dụng những điều phát minh của các nhà khoa học, triết học, sáng lập ra Chủ nghĩa xã hội, chủ trương tranh đấu giai cấp dành quyền lợi từ tay chủ nghĩa tư bản, kiến lập chủ nghĩa Cộng sản. Khi nhân loại đã có một nền kinh tế quân bình, sự mâu thuẫn giữa giai cấp không còn nữa, và chiến tranh sẽ hết, nhân loại sẽ được hưởng hạnh phúc sung sướng.
Họ đã cắt bỏ : nhưng vì thiếu căn bản nhân tính, nên chế độ kinh tế này trở thành máy móc không tưởng, để rồi quay lại phản bội con người.
Như vậy, Nhà Xuất Bản Tôn Giáo đã cắt xén, sửa chữa, thay trắng đổi đen, họ đã ngụy tạo ra một quyển sách có phần lên án gắt gao chủ nghĩa xã hội, trở thành quyển sách ca tụng chủ nghĩa này, vì vậy nên chúng tôi định đặt tựa là "Một ngụy thư của Nhà xuất bản Tôn Giáo."
Còn một điểm nữa cũng cần nêu ra, trong tiết mục TÌM ĐƯỜNG tác giả viết ở phần cuối: Tôi cũng là kẻ lạc lối giữa rừng hoang khi còn lang thang vơ vẩn tìm đường may đâu trong tháp ngà nhặt được bản đồ của người thiên cổ.
Không biết tự bao giờ người đã đến đây và vạch thành bản đồ thế ấy …. mở ra xem thì ôi! CON ĐƯỜNG SÁNG Ở BÊN KIA (1).
Nhà xuất bản Tôn Giáo đã thêm vào chú thích này: (1) Chỉ cho sự đạt đạo, giác ngộ.
Thật ra có phải tác giả muốn nói thế không ? Hay là tác giả muốn để cho độc giả còn có thể nghĩ rằng: CON ĐƯỜNG SÁNG Ở BÊN KIA chớ không phải ở bên này, là nơi tác giả đang tu hành trong một ngôi chùa ở Nghệ An của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Sự thật vẫn là sự thật, cho nên chúng tôi đầu tiên định lấy tựa là "Cái gì của Cesar hãy trả lại cho Cesar ( 1 ) " Nhưng Nhà xuất bản Tôn Giáo đã chủ trương như vậy, họ cần cho người ta đọc và tin theo, cần gì họ phải sửa chữa, cho nên muốn "Cái gì của Cesar hãy trả lại cho Cesar" là chúng ta cần tái bản lại, nhất là những vị thuộc tông môn chùa Trúc Lâm ở Huế, nơi Hòa Thượng Thích Mật Thể đã thọ giới Sa di và nay đã cải táng Người ở nơi đây.
Làm được như vậy mới tránh được những ngộ nhận đáng tiếc, và không để cho tên tuổi của tác giả Việt Nam Phật Giáo Sử Lược bị vùi chôn do chủ trương của Ban Tôn Giáo Chính phủ Nhà nước Cộng Sản Việt Nam.
Chánh Hạnh
1-11-2005
( 1) Sê-sa là Jules César (100-44 trước Tây lịch), cũng thường được gọi là Đại đế César.
Còn thành ngữ trên, theo Thánh Kinh : MÁC 12:13 cũng như MA-THI-Ơ 22:15 Ghi chép: Đức Chúa Trời và Sê-sa như sau:
Bấy giờ người Pha-ri-si đi ra bàn luận với nhau, để kiếm cách bắt lỗi Đức Chúa Jêsus về lời nói. Họ sai môn đồ mình với đảng vua Hê-rốt đến thưa cùng Ngài rằng: Lạy thầy, chúng tôi biết thầy là thật, và theo cách thật mà dạy đạo của Đức Chúa Trời, không tư vị ai; vì thầy không xem bề ngoài của người ta. Vậy xin thầy nói cho chúng tôi, thầy nghĩ thế nào: có nên nộp thuế cho Sê-sa ( a ) hay không? Đức Chúa Jêsus biết ý xấu của họ, bèn đáp rằng: Hởi kẻ giả hình, sao các ngươi thử ta ? Hãy đưa cho ta xem đồng tiền nộp thuế. Họ đưa cho Ngài một đơ-ni-ê. Ngài bèn phán rằng: Hình và hiệu này của ai ? Họ trả lời rằng : Của Sê-sa. Ngài bèn phán rằng: Vậy, hãy trả cho Sê-sa vật gì của Sê-sa; và trả cho Đức Chúa Trời vật gì của Đức Chúa Trời. Họ nghe lời ấy, đều bợ ngợ, liền bỏ ngài mà đi.
( a ) Người Rô-ma gọi vua là Sê-sa.