Chủ Nhật, 13 tháng 6, 2010

Phương Pháp Tu Tập



Là người Phật Tử khi tu học ai cũng muốn mình sẽ đạt được sở nguyện, hai pháp môn thông thường thực hành tu tập là Thiền và Tịnh độ.


Bản chất của Thiền là định TÂM, hoặc là chú tâm vào một đề mục hoặc là giữ tâm yên định, vì tâm định thì trí huệ sanh, do đó người ta thấu hiểu được vấn đề hay tâm định để chứng nhập vào các tầng Thiền: Sơ thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền. Cho nên mới có Thiền Đốn ngộ và Tiệm tu hay Như Lai thiền và Tổ sư thiền. Dẫu sao Thiền cũng đòi hỏi người hành Thiền nhiều nổ lực để đạt được cứu cánh tức thời hay hiện kiếp. 


Người tu Pháp môn Niệm Phật để cầu vãng sanh, Cốt yếu của Pháp môn Niệm Phật là phải có Tín, Hạnh, Nguyện. Tín ấy là tin có Đức Phật A Di Đà đang cai quản cõi Cực Lạc, cõi ấy tràn đầy an lạc, phải tin rằng có niệm mười câu danh hiệu Đức A Di Đà thì sẽ được sinh về cõi Cực Lạc, tin rằng chuyên tâm tưởng nhớ đến Phật A Di Đà suốt 7 ngày thì sẽ được sinh về cõi Cực Lạc và lúc trút hơi thở cuối cùng, tâm không điên đảo tưởng nhớ đến đức A Di Đà thì sẽ được Ngài và chư thánh chúng đón rước về cõi Cực Lạc.


Người tu theo pháp môn Tịnh độ phải lập Hạnh, luôn luôn tưởng nhớ đến đức Giáo chủ cõi Cực Lạc A Di Đà Phật, bằng cách đi, đứng, nằm, ngồi đều phải tưởng niệm đến đức A Di Đà Phật.


Và phải chí quyết về cõi Cực Lạc, chí quyết này luôn luôn nhắc nhở người tu theo pháp môn Tịnh độ phải tin tưởng, phải hành ngày đêm không ngừng nghỉ.


Người tu theo pháp môn Tịnh độ làm được như vậy, nhất định sẽ về cõi Cực Lạc như trong các kinh điển đã ghi chép, nhất là Kinh A Di Đà.


Tịnh độ khác Thiền, phương pháp này đòi hỏi chuyên cần hơn nổ lực, cứu cánh đạt được ở kiếp mai sau.


Đạo Phật tin vào Nhân Duyên thì người tu theo pháp môn Thiền hay Tịnh cũng là do Nhân Duyên, kết quả đạt được do người hành có dốc tâm nổ lực hay chuyên cần hay không.


Phương pháp hành khác nhau sẽ đưa đến kết quả khác nhau, nhưng kết quả sẽ đúng y như lời Phật dạy, được ghi chép trong Kinh.  

Thứ Năm, 3 tháng 6, 2010

Vành Khăn Tang Cho Thầy

Chánh Hạnh
*
Mợ Sâm là mẹ của Nga ở đoàn Thiếu Nữ và em Châu ở đoàn Nam Oanh Vũ, Châu là một Oanh Vũ khá tinh nghịch, vài lần tôi phụ trách Đoàn Nam Oanh Vũ, nên có cùng Trưởng Trúc Hải đến thăm gia đình em để nắm vững tình hình và bắt một nhịp cầu liên lạc chặt chẻ giũa Đoàn và gia đình các em đoàn sinh.

Đến thăm vài lần, sau đó cả Trúc Hải và tôi, xem Mợ Sâm như một bà mẹ, Mợ Sâm đối với chúng tôi cũng thế, có những lúc tôi đến nhà hoặc ra chợ Nguyễn Tri Phương thăm. Ở chợ này Mợ sâm có một sạp bán kim chỉ, vậy mà tảo tần đủ nuôi ba mẹ con.


Thỉnh thoảng Mợ Sâm đi chùa Giác Minh, mỗi lần sau khi lễ Phật, Mợ Sâm đều tìm thăm Thầy Chính Tiến. Được xem như người nhà, tôi hỏi Mợ về mối liên hệ nầy, Mợ cho biết:


-         Tôi có người em, đi tu từ nhỏ với Thầy, xem Thầy như em tôi, mỗi lần đi chùa lễ Phật, tôi đều thăm Thầy cũng như thăm em tôi còn ở Bắc vậy!


Hiểu thế chúng tôi quý mến Mợ Sâm nhiều hơn. Ngày tôi ra trường chào Mợ để lên Cao nguyên dạy học, Mợ bảo tôi phải đến nhà dùng bửa cơm gia đình, lần đầu tiên tôi đưọc ăn Tiêt canh vịt do Mợ làm. Sau tôi có đến thăm, người ta cho biết Mợ sang sạp, bán nhà dọn về Tân Thuận, Nga lập gia đình với một quân nhân, còn Châu đi Trung sĩ. Tôi chỉ nghe biết vậy, chớ không hề gặp lại, thỉnh thoẳng nhớ tới họ, nhớ nhất là Mợ Sâm do mối dây quan hệ giữa Mợ, Thầy Chính Tiến và tôi.


Tôi quy y với Hòa Thượng Thích Thanh Thạnh, Thượng Thủ Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt Tại Miền Nam, lễ quy y có Tam sư: Hòa Thượng Thích Thanh Thạnh, Giáo Thọ Thích Bình Minh, Duy Na Thích Chính Tiến, do sự gần gủi tôi cứ nghĩ và tôn kính Thầy Chính Tiến như là bổn sư của mình.


Trong số Huynh Trưởng hoạt động tại Giác Minh, dưới mắt nhiều người đánh giá là Thầy “cưng” tôi nhất cho nên năm 1959, tôi là Huynh Trưởng là Liên Đoàn Trưởng Gia Đình Phật Tử Giác Minh mới có 18 tuổi!


Trước đó, Thầy Chính Tiến chủ trương Đặc San ÁNH ĐẠO, nội dung về Gia Đình Phật Tử,  đặc san này đã có bài của anh Nguyễn Văn Thục, Thầy muốn tôi viết bài về anh Võ Đình Cường, nên Thầy viết thư, giới thiệu tôi vào Phật Học Đường Ấn Quang, để gặp và phỏng vấn anh Cường, vì lý do chánh trị thời bấy giờ bài này có liên quan tới anh Cường nên Thầy không đăng vào báo, nhưng nhờ duyên ấy, tôi mới quen biết và lui tới nhà anh Cường từ thuở đó.


Năm 1962, là Đoàn Trưởng Trường Đào Tạo HuynhTrưởng A Dật Đa, tôi viết một bài về “Lược sử Gia Đình Phật Tử thuộc Giáo Hội Tăng Già Băc Việt Tại Miền Nam”, bài đăng trong Tài liệu học tập Khóa 2. Sau khi xem xong, Thầy trao tiền cho một người, thưởng cho tôi 1,200 đồng thời đó, tôi mua một kính mát gọng vàng của Pháp hiệu Nylor và một cây bút ngòi vàng hiệu Pilot kiểu V, cây bút em họ tôi xin rồi mất trong chuyến vượt biên, kính tôi đổi cho nhạc gia tôi cái kính model mấy chàng Pilot thường mang, tôi vô ý làm rớt bể tròng, gặp thời buổi kinh tế khó khăn bán cái gọng vàng mua được vài ký gạo, cho nên nay không còn chi để kỷ niệm!


Có một lần, bổng dưng Thầy nói với tôi: “Gia đình con quen, Thầy có biết. Không nên tiến tới hôn nhân” Thầy chỉ khuyên bảo ngắn gọn như vậy, nhiều năm tháng về sau, Thầy không hỏi han cũng không khuyên bảo thêm lời nào.


Nói tôi được Thầy “cưng” chắc không ngoa, vì khoảng cuối năm 1963, trong một đêm uống cà phê bàn tính chuyện, tại quán cà phê bản doanh của Ban Hướng Dẫn ở ngã tư Phú Nhuận, bác Nguyễn Đức Lợi, Nguyễn Quang Vui, Nguyễn Đình Thống, Ngô Mạnh Thu đã trao cho tôi sứ mệnh gặp Thầy, báo cho Thầy biết dư luận khong tốt cho Thầy..


Tôi nhớ có lần tôi vô tình chạm tay vào áo của Thầy, Thầy dạy tôi trước nhiều người :”Các con không được phép chạm vào y của quý Thầy, làm vậy phạm giới đó!”, cho nên theo tôi Thầy gìn giữ giới luật rất nghiêm minh. Cái khó khăn cho tôi là làm sao nói với Thầy, sứ mệnh đã giao, tôi phải làm . Tôi lại nhớ một lần ai viết thiệp Tết chúc Thầy tinh tấn, Thầy dạy chúng tôi không được chúc như vây, vì đó là lời khuyên, chỉ có ngưòi trên mơi khuyên kẻ dưới tu cho tinh tấn mà thôi.


Nghe tôi trình bày những dị nghị của người đời, Thầy bảo cho tôi biết: “- Con đừng lo! Thầy đã hứa bên giường bệnh mẹ Thầy là Thầy sẽ tu trọn cuộc đời”. Tôi quý Thầy, tôi tin tưởng Thầy nhiều hơn.


Rồi những năm sau đó, Thầy xây dựng Tổ đình Vĩnh Nghiêm hoành tráng, uy nghiêm giữa đất phồn hoa đô hội Sàigòn, tôi nghĩ Thầy đã làm như Thầy đã nói với tôi.


Một lần tôi về phép năm 1970, bế con đầu lòng vào phòng thăm Thầy trong hậu liêu, tôi để ý thấy liêu Thầy giản tiện và trống trải hơn liêu kế bên của Thầy Thanh Kiểm, một cái bàn làm việc kê gần cửa kính ngó ra sân sau chùa, một tủ kính chứa đầy kinh kệ bìa cứng mạ chữ vàng, một cái tủ nhỏ chắc là để y, liêu nhỏ không có thêm ghế cho khách, tôi đứng thưa chuyện với Thầy, Thầy trò vẫn bình thản như xưa.


Năm sau tôi về nghe tin Thầy đã hoàn tục, tôi vừa thương tiếc vừa kính trọng Thầy nhiều hơn. Thưong Thầy là vì tình Thầy trò bao nhiêu năm sâu đậm nay Thầy đã rời khỏi chùa, kính trọng Thầy là một vị chân tu hoặc tu thì tu cho chính chắn, còn không thì ra đời tránh khỏi chuyện gian dối ở chốn Thiền môn.


Nghe nói, Thầy xin hoàn y, Thầy Tâm Giác chưởng môn phái Vĩnh Nghiêm nhất địnhkhông cho, giờ chót buổi lễ tại Tổ đình Vĩnh Nghiêm Thầy Tâm Giác phải tới dự, buỗi lễ diễn ra đầy xúc cảm, làm rơi lệ bao người bởi vì họ rất quý mến một ông Tăng, Phật học uyên thâm, nói năng từ tốn, nghiêm túc và hành xử bao dung, quảng đại với mọi ngưòi nay phải hoàn y trở về thế tục !


Sau năm 1975, Thầy có mời anh em chúng tôi gồm Nguyễn Đình Thống, Ngô mạnh Thu, Nguyễn Quang Vui, lại có thêm Nguyễn Văn Quýnh và tôi, đến nhà Thầy đãi ăn cho một bửa, đó là bửa ăn sau nhiều năm Thầy trò mới gặp lại, trên căn gác nhà Thầy trong hẻm đường Lê Văn Duyệt.


Tiệc tàn, anh Quýnh và tôi ra đường Phan Đình Phùng gần nhà cũ của Thầy, hai chúng tôi ngồi uống cà phê bên vệ đường, anh Quýnh đã kể cho nghe, một vị Tăng trong gia đình cho anh biết đã phải chiến đấu nội tâm cam go như thế nào mới gìn giữ được giới luật.


Thầy đến Mỹ tôi chưa đi thăm, Thầy dự Hội Ngộ mấy lần tôi đều vắng mặt, nay Thầy mất, tôi không đến thắp cho Thầy một nén hương. “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, tình nghia Thầy trò sao mà phai nhạt vậy ?!!!


Giá mà đến đuợc để dự tang lễ, tôi xin một vành khăn tang, tỏ lòng tôi tôn kính và biết ân Thầy.


29-01-2010

Thứ Hai, 31 tháng 5, 2010

Đức Di Lặc Tôn Phật



Phúc Trung


Trong pháp hội của đức Thích Ca Mâu Ni Phật, Ngài đã thọ ký cho đức Di Lặc sẽ thành đạo dưới cội Long Hoa, pháp hội Long Hoa ấy sẽ đem đến cho thế gian, khắp cả mọi người tràn đầy an lạc. Tết Nguyên Đán là một ngày vui tươi nhất trong năm, nên chư Tổ đã chọn ngày nầy làm ngày Vía của đức Di Lặc.

Di Lặc là một vị thánh tăng có thực trong lịch sử, Ngài là người Bà La Môn ở Nam Ấn Độ, thân sinh là Ba Bà Lợi, họ A Dật Đa, tên là Di Lặc. A Dật Đa nghĩa là vô năng thắng , hạnh tu và lòng từ bi của Ngài không ai sánh kịp. Di Lặc dịch là Từ Thị , nghĩa là có lòng Từ rộng lớn. Sở dĩ gọi là Từ Thị là vì khi mẹ Ngài chưa thọ thai thì từ tâm rất kém, khi thọ thai Ngài thì tâm từ rộng mở. Lại trong một kiếp trước, ngài là một vị tiên tên là Nhất Thế Trí Quang nhờ đức Phật dạy phép tu Từ tâm tam muội, ngài tu phép ấy cho đến khi thành Phật, nên gọi Ngài là Từ Thị.

Vào thế kỷ thứ 10, Ngài có một hóa thân ở Trung Hoa, là Hòa Thượng Khê Thử ở tại xứ Minh Châu huyện Phong Hóa, Ngài có thân hình to lớn, tánh tình hoan hỷ, nói năng khác thường, ngủ nghỉ không chọn sang hèn. Ngài thường quảy cái đãy to đi khất thực, nên người ta gọi Ngài là Bố Đại Hòa Thượng,  ai cho chi Ngài bỏ vào đãy, đến chỗ nào có trẻ con, Ngài lấy những thứ có trong đãy ra cho trẻ con và chơi đùa vui vẻ với chúng. Một hôm Hòa Thượng Thảo Đường gặp Ngài hỏi : ''- Đại ý Phật Pháp như thế nào ?''. Đang quảy bị trên vai, nghe hỏi như thế Ngài bỏ cái bị xuống đất. Hoà Thượng Thảo Đường liền hỏi thêm : ''Chỉ có thế thôi hay còn đường tiến lên ''. Ngài chẳng nói chẳng rằng quảy cái bị lên vai đi tiếp. Trước khi tịch Ngài có bài kệ :

Di Lặc chơn Di Lặc
Phân thân thiên bách ức
 Thời thời thị thời nhơn
 Thời nhơn thị bất thức

Nghĩa là : Di Lặc thật Di Lặc, phân thân trong muôn ức, thường thường chỉ dạy người, người đời tự không biết. Nhờ đó người ta mới biết Hoà Thượng Khê Thử là hóa thân của đức Di Lặc, người ta làm tượng Ngài thân hình cao lớn, bụng to, miệng cười hoan hỷ đó là phỏng theo hình dạng Bố Đại Hòa Thượng.

Ngày mồng Một đầu năm là ngày Tết Nguyên Đán, ngày khởi đầu những tiết của một năm mới, ai ai cũng hân hoan vui mừng chào đón, hy vọng ngày ấy tốt lành, cả năm sẽ mưa thuận gió hòa, nhà nhà ấm no hạnh phúc. Do đó, chư Tổ chọn ngày Tết Nguyên Đán làm ngày Đản sinh của Đức Di Lặc.
Tháng2/1999

Tổng kết về Duyên khởi


Phúc Trung
*
I. Dẫn: Lý Duyên Khởi rất độc đáo trong giáo lý của đức Thế Tôn, bởi vì nó cho thấy một vật hiện hữu do duyên sinh, có trùng trùng duyên khởi, không có tự tánh, do vậy vô ngã. Nó khác với các tôn giáo khác, cho rằng có một đấng cao cả sinh hóa vạn vật.
II. Giáo lý căn bản: Trước tiên, thực tế hơn hết, Ðức Thế Tôn dạy cho người ta nhận chân được bốn sự thật : Ðây là khổ. Ðây là khổ tập. Ðây là khổ diệt. Ðây là con đường đưa đến khổ diệt. Con đường đưa đến khổ diệt ấy Ngài dạy thật rõ nó có tám phần phải theo: Thấy biết chân chính. Suy tư chân chính. Nói lời chân chính. Hành động chân chính. Ðời sống chân chánh. Tưởng nghĩ chân chánh. Ðịnh tâm trong chân chánh. Phát triển trí tuệ trong chân chánh.
Ðể giảng dạy về khổ uẩn tập khởi và khổ uẩn đoạn diệt, chúng tôi xin trích hai đoạn văn tinh yếu sau đây trong Kinh Tương Ưng Bộ nói lên đầy đủ về Duyên khởi và những gì trọng yếu đức Thế Tôn đã giảng dạy:
Phẩm Cây. X. Nhân (S.ii,92)
Một thời thế Tôn trú giữa dân chúng Kuru, tại một thị trấn của dân chúng Kuru tên là Kammàsadamma.
Rồi tôn giả Ànanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, tôn giả Ànanda bạch Thế Tôn:
- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn sâu xa thay là định lý Duyên khởi này, và sâu xa thật là định lý này. Nhưng đối với con định lý ấy có vẻ rõ ràng, minh bạch!
- Chớ có nói vậy, này Ànanda! Chớ nói vậy, này Ànanda! Sâu xa thay, này Ànanda là định lý Duyên khởi này, và sâu xa thật là định nghĩa này. Này Ànanda, chính vì không hiểu rõ pháp này, không giác ngộ, không chứng nhập (pháp này) mà chúng sanh nay bị rối ren như cuộn chỉ, bị phủ đầy bởi bệnh cằn cỗi, như cỏ munjà, như cây lau, không thoát khỏi sự luân hồi trong cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Nàu Ànanda, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái hữu có mặt. Do duyên hữu sanh có mặt. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Này Ànanda, ví như một cây lớn, các rễ của cây ấy đâm xuống và đâm ngang, tất cả rễ ấy đều hút lên nhựa sống cho cây ấy. Này Ànanda, cây ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể đứng vững trong một thời gian dài.
Cũng vậy, này Ànanda, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ có mặt. Do duyên thủ, hữu có mặt …(như trên)… Như vậy toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Này Ànanda, ai sống thấy sự tai hại trong các pháp chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt … (như trên)… Như vậy toàn bộ khổ uẩn này diệt.
Này Ànanda, ví như một cây lớn, rồi có người đi đến, cầm cái cuốc và cái giỏ. Người ấy chặt đứt rễ cây ấy. Sau khi chặt đứt rễ, người ấy đào một cái mương. Sau khi đào mương, người ấy nhổ lên các rễ lớn cho đến các rễ con, rễ phụ. Người ấy chặt cây ấy ra từng khúc, người ấy bửa. Sau khi bửa, người ấy chẻ ra từng miếng nhỏ. Sau khi chẻ ra từng miếng nhỏ, người ấy phơi giữa gió và nắng, người ấy lấy lửa đốt. Sau khi lấy lửa đốt, người ấy vun lại thành đống trọ Sau khi vun lại thành đống tro, hoặc người ấy sàng trong gió lớn hay đổ vào dòng nước chảy mạnh để nước cuốn đi. Như vậy, này Ànanda, cây lớn ấy sẽ bị chặt đứt, làm thành như cây Ta La không thể nào tái sanh, không thể sanh khởi lại trong tương lai.
Như vậy, này Ànanda, ai sống thấy tai hại trong các pháp được chấp thủ, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt, nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này diệt. (1)
III. Chủ đích giáo hóa: Và một đoạn khác, cho thấy chủ đích giáo hóa của Thế Tôn:
Phẩm Tương Ưng Kassapa. XII. Sau Khi Chết (S.ii.222)
Một thời tôn giả Mahà Kassapa (Ðại Ca Diếp) và Tôn giả Sàriputta (Xá Lợi Phất) trú ở Bàrànasi (Ba La Nại) tại Isipatana (chư Tiên đọa xứ), ở Migadaya (Lộc Uyển).
Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm, liền ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Kassapa:
- Này Hiền giả Kassapa, có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết không?
- Này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: "Như Lai có tồn tại sau khi chết".
- Như vậy, này Hiền giả, có phải Như Lai không tồn tại sau khi chết?
- Cũng vậy, này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: "Như Lai không tồn tại sau khi chết".
- Như vậy, này Hiền giả, có phải Như Lai có tồn tại, và không tồn tại sau khi ch ết?
- Này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết".
- Như vậy, này Hiền giả, có phải Như Lai không tồn tại, và không không tồn tại sau khi chết?
- Cũng vậy, này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
- Này Hiền giả, vì sao Thế Tôn không có tuyên bố như vậy? Vì đây này Hiền giả, không đưa đến lợi ích, không đưa đến cứu cánh Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Do vậy, Thế Tôn không có tuyên bố như vậy.
- Vậy này Hiền giả, Thế Tôn tuyên bố cái gì ?
- "Ðây là khổ", này Hiền giả, Thế Tôn đã tuyên bố. "Ðây là khổ tập", Thế Tôn đã tuyên bố. "Ðây là khổ diệt", Thế Tôn đã tuyên bố. "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, Thế Tôn đã tuyên bố.
- Vì sao, này Hiền giả, Thế Tôn đã tuyên bố như vậy ?
- Vì đây, này Hiền giả, đưa đến lợi ích, đưa đến cứu cánh Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Do vậy, Thế Tôn đã tuyên bố như vậy . (2)
IV. Kết luận: Ðức Thế Tôn dạy ở một đoạn khác nữa(3) khi một người đã hiểu rõ Duyên khởi thì không hỏi về sự có mặt hay không có mặt của mình trong quá khứ, hiện tại và vị lai, và cũng để yếm ly, ly tham, an trú trong chánh niệm để giải thoát khỏi phiền não, sinh tử trong luân hồi.
--- Chú thích:
(1) HT. Th. Minh Châu
Kinh Tương Ưng Bộ, q2, trang 165, 166, 167VNCPHVN, 1993
(2) HT. Th. Minh Châu
Kinh Tương Ưng Bộ, q2, trang 382, 383, 384VNCPHVN, 1993
(3) HT. Th. Minh Châu
Kinh Tương Ưng Bộ, q2, trang 53, 54 VNCPHVN, 1993

Pháp giới Duyên khởi

Phúc Trung
I. Dẫn: Như đã trình bày, Hoa Nghiêm Tông phân chia lý duyên khởi thành 4 chủng loại: Vô minh duyên khởi, A lại da duyên khởi, Như Lai tạng duyên khởi và Pháp giới viên khởi là viên giáo.
II. Ðịnh nghĩa: Dharma chữ Phạn là Pháp, chỉ chung cho mọi sự vật dù lớn hay nhỏ dù vô hình hay hữu hình, chơn thật hay hư vọng đều là Pháp cả. Duy Thức luận giải nghĩa chữ Pháp : " Tự thể nhậm trì, quỉ sinh vật giải " nghĩa là có khả năng duy trì bảo hộ tự thể và là tiêu chuẩn quy phạm của nhận thức. Hay có thể nói PHÁP chỉ cho cái gì gìn giữ được tự thể của nó, làm cho người ta trông đến, nhận biết đó là vật gì.
Dharmadhatu chữ Phạn là Pháp giới, có nhiều nghĩa nhưng có thể tóm tắc vào hai nghĩa trong phạm vi về sự và về lý.
Về sự : Pháp là các pháp, giới là cảnh giới, giới hạn. Các pháp đều có tự thể nhưng vì cảnh giới chẳng đồng, cho nên phân ra từng cảnh giới, mỗi cảnh giới là một pháp giới. Như trong kinh Phật chia ra mười cảnh giới: 1. Phật, 2. Bồ Tát, 3. Duyên Giác, 4. Thanh Văn, 5. Thiên, 6. Nhơn, 7. A tu la, 8. Quỉ, 9. Súc sanh, 10. Ðiạ ngục. Trong vũ trụ vô biên vô cùng tận, lúc nào, chỗ nào cũng có Phật pháp gọi chung là pháp giới (cõi pháp của Phật). Khi đức Phật tại thế Ngài dạy vô lượng pháp môn tu, các pháp môn ấy gồm thành một Pháp giới.
Về lý: Pháp giới là cảnh giới chung của chúng sanh: Dầu người, dầu vật đều có đồng một pháp tánh như nhau, đó là Phật tánh hay Chơn như nên tất cả đều sẽ thành Phật. Pháp giới còn có nghĩa là: Pháp là Phật đạo, Thánh đạo, Giới là cảnh giới mà người tu hành phải nương theo, để tấn tới thành Thánh rồi tiến lên thành Phật. Pháp còn có nghĩa là pháp lý, pháp môn, giới tức là tánh; các pháp đều đồng một tánh, người tu hiểu được như thế, nương theo đó tu để mau được giải thoát.
Một đoạn kinh rất quan trọng là căn bản của Pháp giới duyên khởi, đức Thế Tôn đã giảng tại Kỳ thọ Cấp Cô Ðộc viên như sau:
Ở đây, này các Tỷ kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử khéo chơn chánh tư duy định lý duyên khởi: " Do cái nầy có mặt, cái kia có mặt. Do cái nầy sanh, cái kia sanh. Do cái nầy không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái nầy diệt, cái kia diệt.". Ví như do duyên vô minh, các hành sanh khởi… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn nầy tập khởi. (1)
Chính đoạn kinh trên đây, cho chúng ta thấy rằng một vật hiện hữu liên hệ chằng chịt với biết bao nhiêu vật khác trong Vũ trụ hay Pháp giới, do vậy mà người ta thường nói là trùng trùng duyên khởi.
III.Kết luận: Hiểu được Pháp giới duyên khởi là chúng ta thấy được vạn hữu tánh không, do đó vô ngã, giả hợp mà có, từ đó xả ly mọi tham ái, phiền não để tiến nhanh trên đường giải thoát.
--- Chú thích:
(1) HT. Thích Minh Châu
Kinh Tương Ưng Bộ, quyển 2, trang 171,VNCPHVN, 1993

Như Lai tạng Duyên khởi

Phúc Trung
I.- Dẫn nhập: Theo như tông Hoa Nghiêm thì giáo lý Duyên khởi có bốn chủng loại là: Nghiệp cảm duyên khởi, đây là giáo lý nguyên thỉ, A lại da duyên khởi là thỉ giáo của Ðại thừa, Như lai tạng duyên khởi là chung giáo của Ðại thừa và Pháp giới duyên khởi là viên giáo của Ðại thừa.
II.- Ðịnh nghĩa: Như Lai chữ Phạn viết là Tathà-gata dịch ra Hán việt là Như lai. Trước tiên chúng ta cần tìm hiểu xem nghĩa của Như Lai theo các kinh điển nghĩa là gì? Theo như kinh Kim Cương, đức Thế Tôn giảng " Như Lai giả tức chư pháp như nghĩa", có nghĩa là: " Như Lai có nghĩa là chân như của các pháp ", cũng trong kinh nầy một đọan sau, đức Thế Tôn giảng " Như Lai giả, vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai " có nghĩa là: " Như Lai có nghĩa là không từ đâu tới cả và cũng không đi về đâu cả, cho nên gọi là Như Lai ". (1)
Trong Kinh Ðại Bát Niết Bàn, phẩm Phạm Hạnh (2) đức Thế Tôn giảng cho Ngài Ca Diếp về mười danh hiệu của chư Phật : 1.- Như Lai. 2.- Ứng Cúng. 3.- Chánh Biến Tri. 4.- Minh Hạnh Túc. 5.- Thiện Thệ. 6.- Thế Gian Giải. 7.- Vô Thượng Sĩ. 8.- Ðiều Ngự Trượng Phu. 9.- Thiên Nhân Sư. 10.- Phật Thế Tôn. Về nghĩa của Như Lai: " Thế nào gọi là Như Lai ? Như chỗ thuyết pháp của chư Phật quá khứ chẳng biến đổi. Chư Phật quá khứ vì độ chúng sanh nên nói mười hai bộ kinh (3). Ðức Như Lai cũng vậy nên hiệu là Như Lai. Chư Phật Thế Tôn từ sáu môn Ba La Mật, ba mươi bảy phẩm trợ đạo (4), mười một pháp không (5) mà đến đại Niết Bàn. Ðức Như lai cũng vậy, nên gọi Phật là Như Lai. Chư Phật Thế Tôn vì chúng sanh nên tùy nghi phương tiện khai thị ba thừa, thọ mạng vô lượng không thể tính đếm. Ðức Như Lai cũng vậy nên gọi Phật là Như Lai."
Trong Kinh Thắng Man Bảo Quật: " Như lai là thể thuộc Như mà đến nên gọi la Như lai. Cũng như chư Phật mà đi đến, cho nên gọi là Như Lai. Có người hỏi: Nói rằng thể của Phật thuộc tính Như mà đi đến nên gọi là Như Lai. Tức là Ứng thân của Phật, vậy làm sao có nghĩa Lai ? Ðã là Chân như Pháp thân rồi thì làm sao có Lai ? Ðáp: Như vốn ẩn nhưng nay hiện, cho nên nói là Lai (đến) cũng có thể được ".
Như Lai chữ Phạn còn viết là Tu-già-đà dịch là Như Khứ, Hảo Khứ có nghĩa là dứt khỏi vòng sanh tử.
Trong Bi Tàng Kí Bản: " Như Khứ là từ phàm phu tu hành đến thành chánh giác. Hiểu được lẽ Như mà đi nên gọi là Như Khứ. Như Lai là từ sau khi thành Phật, một lòng nguyện từ bi, ra công cứu vớt chúng sinh. Hiểu được là Như mà đến nên gọi là Như Lai ".
Như vậy Như Lai có hai nghĩa đối lập nhau, Như Khứ là hướng lên trên tìm tự lợi (thượng cầu bồ đề), còn Như Lai là hướng xuống dưới làm lợi cho người khác (hạ hóa chúng sanh).
Như Lai còn có nghĩa chẳng phải bực đoạn diệt phiền nãọ mà là bực chẳng hề phát sinh phiền não. Như vậy Như lai tức là Niết bàn.
Như lai chẳng phải là phàm phu, cũng chẳng phải là Thinh Văn, Duyên giác, Bồ tát. Như vậy Như Lai tức là Phật tánh.
Như Lai là bậc mà Thân. Tâm và Trí huệ bủa khắp vô lượng vô số thế giới, không hề bị chướng ngại. Như vậy Như Lai tức là hư không.
Như lai là thường trụ, chẳng hề biến đổi. Như vậy Như Lai tức là thật tướng.
Tóm lại Như Lai là chỉ cho chư Phật, bậc toàn giác, không còn luân hồi sinh tử, an nhiên, tự tại.
Còn Như Lai Tạng trong Kinh Lăng Già Tâm Ấn, Thế Tôn dạy Bồ tát Ðại Huệ (6): "... Ðại Huệ ! Có khi nói không, vô tướng, vô nguyện, như thật tế, pháp tánh, pháp thân, niết bàn, ly tự tánh, bất sanh, bất diệt những câu như thế đều nói Như Lai tàng..."
Hiểu nghĩa rốt ráo Như Lai tạng là kho chứa Phật tính hay Chân như. Tạng có 3 nghĩa:
1.- Thu nhiếp lại: Chân như ở trong chúng sanh bao gồm hai mặt hòa hợp và không hòa hợp. Hòa hợp thì sinh ra hết thảy các pháp nhiễm ô, không hòa hợp thì sanh ra hết thảy các pháp thanh tinh. Cả hai Nhiễm pháp và Tịnh pháp đều nằm trong Như lai tính tức Chân như, nên gọi là Như Lai Tạng. Nói cách khác, Chân như bao gồm mọi pháp, Như Lai tạng chứa tất cả các pháp.
2.- Giấu kín che phủ: Khi Chân như ở trong phiền não, bị phiền não che lấp mất tính đức của Chơn như, nó không thể hiện ra được vì lẽ đó gọi là Như Lai tạng.
3.- Có khả năng nuôi dưỡng: Chân như ở trong phiền não, ngậm chứa thâu nhiếp hết thảy công đức quả vị của Như Lai, cho nên gọi là Như Lai tạng.
Như trên vừa trình bày, Như Lai tạng gồm cả tịnh và nhiễm pháp, vậy tu tập là gột trừ phiền não nhiễm ô để chỉ có những tịnh pháp, hiển lộ Chân như.
III.- Kết luận: Chúng ta thấy rằng Như Lai tạng chứa hết thảy các pháp, vạn hữu vốn là Chân như từ Như Lai tạng mà ra, nên vạn hữu duyên sanh mà có là Chân như duyên khởi hay Như Lai tạng duyên khởi vậy.
---
Chú thích:
  1. Thích Nhật Từ Kinh Tụng Hằng Ngày Ðạo Phật ngày nay xuất bản, 2002 trang 692, 701
  2. Thích Trí Tịnh Kinh Ðại Bát Niết Bàn THPGTPHCM, 1996, trang 605-606
  3. Thuật ngữ chỉ 12 chủng loại tất cả kinh Phật: 1.- Khế kinh, 2.- Trùng Tụng, 3.- Phúng tụng, 4.- Nhân duyên, 5.- Bản sinh, 6.- Bản sự, 7.- Vị Tằng Hữu, 8.- Thí dụ, 9.- Luận nghị, 10.- Tự thuyết, 11.- Phương quảng, 12.- Thụ ký.
  4. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo gồm có:
1.- Bốn Niệm Xứ :
1.- Quán thân bất tịnh.
2.-Quán tâm vô thường.
3.-Quán pháp vô ngạ
4.-Quán thọ thị khổ.
2.- Bốn Chính cần:
1.-Tinh tấn ngăn ngừa các điều ác chưa phát sinh.
2.- Tinh tấn dứt trừ các phần ác đã phát sinh.
3.- Tinh tấn phát triển các điều lành chưa phát sinh.
4.- Tinh tấn tiếp tục phát triển các điều lành đã phát sinh.
3.- Bốn Như ý túc:
1.-Dục như ý túc.
2.-Tinh tấn như ý túc.
3.-Nhất tâm như ý túc.
4.-Quán như ý túc.
4.- Năm Căn:
1.-Tín căn.
2.- Tấn căn.
3.- Niệm căn.
4.- Ðịnh căn.
5.- Tuệ căn.
5.- Năm Lực:
1.- Tín lực.
2.- Tấn lực.
3.- Niệm lực.
4.- Ðịnh lực.
5.-Tuệ lực.
6.- Bảy Giác chi:
1.- Trạch pháp (chọn lựa pháp tu).
2.- Tinh tấn.
3.- Hỷ.
4.- Khinh an.
5.- Niệm.
6.- Ðịnh.
7.- Xả.
7.- Tám Thánh đạo:
1.- Chánh kiến.
2.- Chánh tư duỵ
3.- Chánh ngữ.
4.- Chánh nghiệp.
5.- Chánh mạng.
6.- Chánh tinh tấn.
7.- Chánh niệm.
8.- Chánh định.
(5) Trong Ðại Trí Ðộ Luận phần 46 có kể ra 18 pháp không. Trong Ðại Bát Niết Bàn Kinh kể ra 25 thứ Không: 1.- Nội không. 2.- Ngoại không. 3.- Nội ngoại không. 4.- Hữu vi không. 5.- Vô vi không. 6.- Vô thỉ không. 7.- Tánh không. 8.- Viễn ly không. 9.- Tán không. 10.- Tự tướng không. 11.- Vô tướng không. 12.- Âm không. 13.- Nhập không. 14.- Giới không. 15.- Thiện không. 16.- Bất thiện không. 17.- Vô ký không. 18.- Bồ đề không. 19.- Ðạo không. 20.- Niết bàn không. 21.- Hành không. 22.- Ðắc không. 23.- Ðệ nhất nghĩa không. 24.- Không không. 25.- Ðại không.
(6) Thích Thanh Từ Kinh Lăng Già Tâm Ấn, Tu viện Chơn Không, chùa Phổ Ðà ấn tống, 1989, trang 134